Bệnh Trẻ Em: Trẻ Có Thể Bị Viêm Xoang Hoặc Điếc Nếu Xì Mũi Sai Cách – Nguyễn Chi

Trẻ bị nghẹt mũi, nếu mẹ hướng dẫn trẻ xì mũi không đúng cách có thể khiến con bị viêm xoang, giảm thính lực, thậm chí điếc.

1. Xì mũi sai cách gây tác hại thế nào?


Xì mũi sai cách có thể khiến trẻ bị viêm xoang

Gây viêm xoang

Thời tiết thay đổi, sổ mũi là bệnh thường gặp nhất ở trẻ nhỏ. Và xì mũi là phản ứng tự nhiên để cơ thể tống các chất nhầy ứ đọng giúp lấy lại sự thông thoáng cho mũi. Việc xì mũi tưởng chừng đơn giản nhưng nếu không thực hiện đúng cách có thể gây viêm xoang, viêm khí phế quản… nhất là ở trẻ dưới 5 tuổi.

Lý giải cho điều này, theo các bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng cho biết, mũi chúng ta luôn ở trạng thái tiết dịch. Nhưng khi bị kích thích bởi yếu tố thời tiết lạnh, bụi bẩn…. mũi sẽ tiết dịch nhiều hơn, đặc hơn. Với những trẻ nhỏ, nếu không biết cách xì mũi, thay vì xì thật mạnh để đẩy lượng dịch này ra ngoài chúng lại hít thật mạnh vào. Kết quả là các chất này sẽ từ mũi đi xuống họng hoặc đi ngược vào xoang, gây viêm xoang.

Giảm thính lực

Cũng theo các bác sĩ, tai mũi họng thông nhau qua ống tai vòi, khi mũi chứa dịch ứ lâu ngày, nếu không xì cẩn thận để tống dịch, đàm ra ngoài có thể khiến trẻ bị giảm thính lực, thậm chí điếc. Bởi, khi trẻ xì mạnh sẽ gây trở ngại cho các dây thần kinh thính giác, tai có thể có tiếng ù (do không khí đẩy vào vòm tai), chưa kể các chất ứ dịch thay vì ra ngoài, chúng bị tống mạnh vào trong cùng các tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn gây viêm tai giữa, tác vòi nhĩ, viêm tai màng nhĩ đóng kín.

Nếu không phát hiện các bệnh viêm tai kịp thời trẻ sẽ có nguy cơ bị giảm thính lực và điếc.

2. Hướng dẫn mẹ dạy trẻ xì mũi đúng cách


Trẻ dưới 1 tuổi, mẹ có thể dùng dụng cụ hút mũi

Khi dạy trẻ xì mũi mẹ cần lưu ý:

– Sử dụng các loại nước rửa mũi như nước muối sinh lý hoặc các loại nước rửa mũi dành riêng cho trẻ nhỏ, rửa hoặc xịt nhẹ nhàng vào hai bên hốc mũi.

– Dùng tay bịt một bên mũi trẻ và yêu cầu trẻ xì (không cần xì quá mạnh vì có thể gây tổn thương niêm mạc mũi).

– Xì xong một bên, tiếp tục hướng dẫn trẻ xì bên còn lại như trên, tuyệt đối không để trẻ xì hai bên hốc mũi một lúc.

– Đối với trẻ dưới một tuổi, mẹ nhỏ 2 – 3 giọt nước muối sinh lý để làm mềm niêm mạc mũi, sau đó dùng dụng cụ hút mũi, hút nhẹ nhàng từng bên. Tuyệt đối không lạm dụng dụng cụ hút mũi vì có thể gây tác dụng ngược.

– Để tránh tình trạng mũi bị đặc hai bên, mẹ cần tích cực cho trẻ uống nước nhiều hơn thường ngày để làm lỏng dịch mũi, giúp trẻ không bị nghẹt do dịch trong mũi quá đặc.

– Nếu trẻ có dấu hiệu tắc mũi nghiêm trọng, khó lấy được dịch trong mũi ra, mẹ cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ chuyên khoa Nhi để được làm sạch mũi và hút dịch trong mũi.

Yeutre.vn (Tổng hợp)

Xem thêm các bài viết khác nếu bạn quan tâm:

Bệnh Trẻ Em: Chỉ Ra 6 Hóa Chất Cực Độc Thường “Ẩn” Trong Các Sản Phẩm Trẻ Em – Ngọc Lan

Khi mua sữa tắm, dầu gội, bỉm tã,… cho con, mẹ nhớ tránh xa những sản phẩm có chứa những chất dưới đây.

Rất nhiều hóa chất độc hại ẩn mình trong các sản phẩm sữa tắm, dầu gội, kem chống hăm, kem chống nắng, bỉm tã,… mà hàng ngày mẹ vẫn chọn mua và sử dụng cho con. Để bé yêu không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chúng, mẹ cần chú ý tránh xa các sản phẩm có ghi những chất sau trên bao bì ở mục “Ingredients” (Thành phần):

Fragrance hoặc Parfum (Hương liệu)


Hóa chất “Parfum” ẩn mình trong các sản phẩm sữa tắm, dầu gội, kem chống hăm, kem chống nắng, bỉm tã,… (Ảnh minh họa)

Một trong những “chiêu trò” của các hãng sản xuất khi muốn che giấu những hóa chất bị cấm sử dụng chính là “đậy” chúng dưới cái tên rất chung chung: hương liệu (fragrance hoặc parfum).

Mặc dù hương liệu thường dùng để mang đến cho các lại sữa tắm, dầu gội, tã bỉm,… mùi thơm đặc trưng, đánh bật những mùi hôi khó chịu nhưng hầu hết các chất này đều là hóa chất tổng hợp độc hại, có loại có khả năng gây dị ứng, ung thư hoặc làm tổn hại tới hệ thần kinh trung ương.

Mineral Oil (Dầu khoáng)

(Còn có thể xuất hiện trên nhãn mác sản phẩm với các tên gọi: petrolatum, paraffinum, parrafinum liquididum)

Đây là một chất làm từ dầu mỏ, được sử dụng rất phổ biến như chất dưỡng ẩm, làm ẩm, giúp da chống mất nước trong các sản phẩm cho trẻ em.

Tuy nhiên, chính vì tác dụng trên mà Mineral Oil (Dầu khoáng) được các nhà khoa học cảnh báo là có tác động tạo thành một lớp mỏng không thấm nước trên da, làm tắc lỗ chân lông, khiến cho da giảm khả năng đào thải chất độc. Tổ chức Y tế thế giới WHO cũng cảnh báo về nguy cơ gây ung thư từ hóa chất mang tên Mineral Oil này.

Paraben

(Còn có thể xuất hiện trên nhãn mác sản phẩm với các tên gọi: Ethylparaben, butylparaben, methylparaben, propylparaben, hoặc bất cứ hóa chất nào có đuôi ở phần tên là “paraben”)

Paraben ngăn ngừa sự sinh sôi nảy nở của vi khuẩn vi trùng nên hay được sử dụng trong các sản phẩm cho trẻ em như một chất bản quản. Hóa chất này có thể gây kích ứng cho làn da non nớt của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất của paraben là khả năng gây rối loạn hooc môn trong cơ thể. Chất này cũng liên quan tới việc gia tăng nguy cư ung thư vú và sản sinh độc tố. Vì hệ thống hooc môn của trẻ nhỏ chưa hoàn thiện đầy đủ, paraben có thể gây ra những thương tổn không thể thay thế cho sự phát triển của tuyến nội tiết.

Bột talc

Bột talc là thành phần phổ biến nhất được tìm thấy trong các loại phấn rôm dành cho trẻ nhỏ, tạo cảm giác khô thoáng. Tuy nhiên, chất này được cảnh báo là cực kì độc hại, trẻ nhỏ hít vào sẽ bị kích thích phổi, thậm chí còn tăng khả năng mắc ung thư. Viện Nhi khoa Mỹ khuyến cáo không nên sử dụng phấn rôm cho trẻ. Tốt nhất, nên sử dụng các nguyên liệu từ tự nhiên như dầu dừa hoặc baking soda khi trẻ bị hăm tã.


Bột talc hay paraben đều là những hóa chất độc hại xuất hiện rộng rãi trong các sản phẩm cho trẻ em. (Ảnh minh họa)

Ceteareth

Mặc dù được sử dụng rộng rãi trong các công thức sữa tắm và kem chống nắng cho trẻ em, Ceteareth bị nghi ngờ là có khả năng gây hại cho sức khỏe con người, bao gồm ngụy cơ làm tổn thương nội tạng, kích ứng da và ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thần kinh.

Polyethylene glycol

Nếu chứa Polyethylene glycol, trên nhãn mác sản phẩm thường sẽ có dòng chữ PEG – kèm theo một con số. Con số càng nhỏ thì khả năng hợp chất này thẩm thấu vào da càng lớn.

PEG (Polyethylene glycol) là một hợp chất có tác dụng làm ẩm nhưng có thể gây dị ứng cho làn da em bé và tạo điều kiện thuận lợi cho những hóa chất độc hại xâm nhập vào cơ thể qua lớp biểu bì.

Theo Khám phá
Nguồn healthychild

Bệnh Trẻ Em: Chỉ Ra 4 Thực Phẩm Cực “Nghèo” Canxi Mẹ Hay Lầm Tưởng – Nguyễn Chi

Canxi là nguyên tố vi lượng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ nhỏ, vì vậy, việc bổ sung canxi qua thực phẩm tự nhiên là rất cần thiết đối với trẻ.

Tuy nhiên, có những thực phẩm mẹ cho trẻ ăn hàng ngày nghèo nàn canxi nhưng mẹ không biết dẫn tới tình trạng thiếu hụt canxi trầm trọng ở trẻ. Đó là những loại thực phẩm nào?

1. Sữa chua uống


Mẹ nên cho trẻ ăn sữa chua thay vì sữa chua uống

Khác với sữa chua bình thường, sữa chua uống tuy có vị chua ngọt khá giống sữa chua thường và cũng qua quy trình lên men nhưng chúng lại không giàu canxi như các mẹ tưởng. Trong sữa chua uống chỉ có 1/3 giá trị dinh dưỡng so với sữa chua bình thường. Vì vậy, mẹ nên thay đổi thực đơn cho trẻ bằng sữa chua bình thường để bổ sung đầy đủ canxi cho con.

2. Váng sữa

Váng sữa được coi là thực phẩm giàu dinh dưỡng, đa chất, rất tốt cho trẻ ăn dặm. Tuy nhiên, sự thật váng sữa chỉ giàu chất béo, là thực phẩm dành cho trẻ suy dinh dưỡng chứ không hề có tác dụng với trẻ muốn phát triển chiều cao. Chưa kể, nếu cho trẻ ăn váng sữa quá nhiều có thể khiến trẻ bị béo phì, ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao của trẻ.

3. Nước hầm xương


Nước hầm xương không nhiều canxi như mẹ tưởng

Rất nhiều mẹ lầm tưởng, nước hầm xương nhiều canxi. Tuy nhiên, đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Trong nước hầm xương chỉ có nhiều chất béo chứ không có canxi. Do canxi không tan trong nước, chúng vẫn nằm trong xương. Đó là lý do nhiều mẹ thường xuyên cho con sử dụng nước hầm xương nhưng trẻ vẫn suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu canxi.

4. Vỏ tôm

Nhiều mẹ hiểu lầm, vỏ tôm cũng giống như xương, chúng chứa rất nhiều canxi vì vậy cần cho trẻ ăn tôm có vỏ để đảm bảo trẻ hấp thu canxi và phát triển chiều cao. Thực tế, vỏ tôm không hề có canxi, chúng là chất sừng để bảo vệ mình tôm. Canxi có nhiều trong đầu tôm, mình và chân tôm. Do đó, mẹ nên cho trẻ ăn thịt tôm thay vì ăn cả vỏ, vừa khó tiêu hóa, vừa khiến trẻ bị ngứa hoặc đau rát vòm miệng, họng.

Yeutre.vn (Tổng hợp)

Xem thêm các bài viết khác nếu bạn quan tâm:

Bệnh Trẻ Em: Liệt Đám Rối Thần Kinh Cánh Tay: Phát Hiện Muộn, Trẻ Bị Tàn Tật – Cẩm Chướng Đỏ

Trong 5 năm qua, Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã phát hiện và phẫu thuật điều trị cho hơn 100 trẻ bị liệt đám rối thần kinh cánh tay.

Hầu hết do sản phụ sinh khó, các bé bị sang chấn sản khoa. Đáng lưu ý, đây là bệnh lý có thể điều trị hiệu quả nếu phát hiện sớm, nhưng thời gian qua khá nhiều trẻ em lại phải chịu tàn tật.

Dù đã trải qua ca vi phẫu nối dây thần kinh hàng tiếng đồng hồ nhưng khả năng phục hồi hoạt động cánh tay trái của bé Trần Quang Vinh (hai tuổi, ngụ tại Gia Lai) vẫn khó tiên lượng. Tay trái của bé Vinh không cử động được ngay sau khi chào đời.

Chị Nguyễn Thị Hương, mẹ bé Vinh, cho biết, bé sinh ra bị vướng vai trái, bác sĩ (BS) phải hỗ trợ kéo thai. Từ lúc sinh ra, tay trái bé không cử động được. Gia đình đưa bé vào khám tại nhiều bệnh viện, nhưng BS lại không phát hiện bệnh, nên khuyên đưa bé về nhà tập vật lý trị liệu.


Một trẻ bị teo cánh tay do liệt đám rối thần kinh – Ảnh: Internet

BS Đặng Khải Minh – khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho biết, do bé Vinh được phát hiện và điều trị khá trễ, nên khả năng phục hồi tương đối khó. Sau khi vi phẫu, sức khỏe của bé đã ổn định. Bé được băng cố định vai và cánh tay trái trong ba tuần. Sau đó, bé sẽ được tập hỗ trợ thêm vật lý trị liệu để phục hồi nhanh hơn. Hy vọng bé sẽ cải thiện 80-90% chức năng vận động

Theo BS Minh, đây không phải bệnh lý bẩm sinh mà xảy ra đối với những ca sinh khó, thường gặp trong tình huống trẻ bị vướng vai hoặc BS sử dụng thủ thuật kéo hỗ trợ người mẹ lúc sinh… gây các sang chấn, khiến trẻ bị đứt đám rối thần kinh cánh tay. Quá trình đỡ trẻ nếu có những tác động không khéo sẽ khiến trẻ bị ảnh hưởng đến chức năng vận động vai, cổ, tay, nặng hơn có thể liệt một phần hay toàn bộ cánh tay.

Theo BS Minh, trước đây, bệnh lý này chỉ được điều trị bảo tồn bằng vật lý trị liệu. Tuy nhiên, khoảng 5 năm trở lại đây, BS người Pháp Alain Gilbert đã mở ra hướng điều trị mới bằng can thiệp ngoại khoa. Chính vị BS này đã trực tiếp đến hỗ trợ Bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện vi phẫu trên 100 trường hợp liệt đám rối thần kinh cánh tay ở trẻ sơ sinh từ năm 2010 đến nay, với tỷ lệ 70-80% trẻ phục hồi tốt.

Điều quan trọng là các sản phụ cũng như BS tại các bệnh viện, các cơ sở y tế cần cẩn trọng hơn trong quá trình đỡ đẻ, tránh việc gây tổn hại cho trẻ sơ sinh. Nếu trẻ chẳng may bị sang chấn, cần theo dõi và điều trị càng sớm càng tốt. Thời điểm thích hợp nhất để phẫu thuật là từ 3-12 tháng tuổi. Sau thời gian này, việc can thiệp phẫu thuật sẽ kém hiệu quả.

Tuy nhiên, hiện do thiếu thông tin, hoặc chủ quan đợi cho trẻ lớn hơn, “cứng cáp” hơn, nên phần lớn phụ huynh và cả cơ sở y tế đã không giúp trẻ tiếp cận điều trị sớm, đánh mất cơ hội hồi phục chức năng vận động cho trẻ. Trung bình mỗi tháng, Bệnh viện Nhi Đồng 1 tiếp nhận năm-sáu ca liệt đám rối thần kinh cánh tay. Trong đó, nhiều ca đến bệnh viện quá muộn.

Theo PNO

Bệnh Trẻ Em: 6 Bệnh Trẻ Dễ Mắc Vào Dịp Tết Mẹ Không Được Chủ Quan – Nguyễn Chi

Tết là thời điểm trẻ được vui chơi thỏa thích và cũng là thời gian cha mẹ bận rộn nhất nên ít có thời gian để ý tới trẻ. Đó là lí do trẻ dễ dàng mắc các bệnh sau vào dịp tết:

1. Rối loạn tiêu hóa


Trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa vào dịp tết

Ngày tết, mẹ chuẩn bị nhiều bánh kẹo, trái cây, thức ăn thịt, cá nên trẻ tha hồ được “bốc nhón” mà không lo cha mẹ cấm đoán như hàng ngày. Đây cũng là nguyên nhân trẻ dễ bị mắc các bệnh về tiêu hóa. Đặc biệt trẻ dưới 3 tuổi, cha mẹ ít thời gian chuẩn bị bữa ăn riêng cho trẻ như mọi ngày, trẻ sẽ ăn cùng gia đình, thậm chí ăn bánh kẹo nhiều dẫn tới bỏ bữa chính hoặc ăn nhiều đồ dầu mỡ, chiên xào thay vì rau củ. Đó là nguyên nhân khiến dạ dày trẻ bị quá tải, khó tiêu hóa dẫn tới đau bụng, táo bón hoặc tiêu chảy…

Lời dặn: Mẹ hãy để ý đến chuyện ăn uống của bé nhiều hơn nữa nhé!

2. Mắc bệnh về hô hấp

Tết là thời điểm giao mùa nên thời tiết thay đổi liên tục. Đặc biệt là thời tiết ngoài Bắc ẩm ướt, mưa phùn kéo dài, nhiệt độ thấp, lạnh và buốt. Nếu cha mẹ không chú ý mặc ấm cho trẻ con dễ bị sổ mũi, viêm họng, viêm phổi, cảm lạnh…

Theo thống kê từ các cơ sở y tế, vào dịp tết số lượng bệnh nhi tăng lên nhiều, nguyên nhân chủ yếu do nhiễm khuẩn đường hô hấp như thở khò khè, ho, đờm, sốt cao, co giật…

Lời dặn: Cha mẹ cần chú ý giữ ấm, phòng lạnh cho trẻ để con có một cái tết thật trọn vẹn, hạnh phúc.

3. Hóc dị vật


Trẻ có nguy cơ hóc dị vật vào dịp tết

Điều này tưởng nhỏ mà không nhỏ chút nào. Tết nhà nào cũng đầy ắp bánh kẹo, mứt, hạt bí, hạt ngô vì vậy, việc trẻ bị hóc dị vật là điều khó tránh khỏi. Đặc biệt trẻ dưới 3 tuổi, kỹ năng xử lý thức ăn chưa thành thạo nên dễ bị hóc kẹo, hóc hạt. Do đó, cha mẹ cũng cần hết sức lưu ý đến việc ăn uống ở trẻ.

4. Bỏng lửa, nước sôi

Tết là thời điểm gia đình quây quần, bạn bè thăm vui nên việc nấu nướng diễn ra thường xuyên. Trong khi đó, trẻ lại hiếu động, chạy nhảy và ít được chú ý nên có thể dẫn tới bị bỏng nước sôi, nước canh, bỏng lửa… Bỏng không chỉ gây nguy hiểm về tính mạng mà còn ảnh hưởng tới thẩm mỹ của trẻ sau này.

Lời dặn: Cha mẹ cần phải cung cấp kiến thức giúp con tránh xa những nơi hoặc vật dễ gây bỏng như bình thủy, bếp lò, bếp ga, bếp từ, máy sấy, thức ăn nóng…

5. Hen suyễn

Đây cũng là một trong những bệnh trẻ dễ mắc nhất vào dịp tết, đặc biệt là thời tiết ngoài Bắc lạnh và buốt. Hen suyễn càng gặp lạnh tình trạng ho càng nặng, chưa kể khi du xuân, bé hít phải bụi ngoài đường nên sẽ có những cơn hen bất ngờ. Hoặc ở trong nhà, mùi khói thuốc, thức ăn cũng khiến bé lên cơn hen suyễn.

Lời dặn: Cha mẹ cần giữ vệ sinh nhà cửa, hạn chế khói thuốc, lông thú để con giảm được tình trạng hen suyễn.

6. Ngộ độc thức ăn

Ngọ độc thức ăn rất thường gặp vào dịp tết do trẻ được ăn “thả ga” mọi thứ từ bánh kẹo, nước ngọt tới thịt, cá, hải sản, thực phẩm tươi sống, chế biến sẵn, đồ hộp…

Lời dặn: Mẹ cần lưu ý trẻ sau khi ăn khoảng 1 – 6 giờ có biểu hiện gì không như đau bụng, buồn nôn, ói chẳng hạn để kịp thời cấp cứu.

Yeutre.vn (Tổng hợp)

Xem thêm các bài viết khác nếu bạn quan tâm:

Bệnh Trẻ Em: Bác Sĩ Dinh Dưỡng Tư Vấn Cách Cho Trẻ Ăn Phô Mai Hợp Lý Theo Từng Tháng Tuổi – Cẩm Chướng Đỏ

Thạc sĩ, bác sĩ Đinh Thị Bích Thủy- Viện Dinh dưỡng Lâm sàng sẽ giải đáp những thắc mắc liên quan đến vấn đề khi cho trẻ ăn phô mai.

Theo sác sĩ Đinh Thị Bích Thủy cho biết, nên cho trẻ ăn phô mai như một loại thực phẩm bổ sung, không thay thế các thực phẩm chính như sữa mẹ và sữa.

Thạc sĩ, bác sĩ Đinh Thị Bích Thủy- Viện Dinh dưỡng Lâm sàn

Phô mai là một sản phẩm trong thành phần có chứa nhiều protein và chất béo từ sữa. Nó có nguồn gốc từ phương Tây và xuất hiện trong các món ăn hoặc các loại bánh ngọt khi vào Việt Nam.

Chủng loại và hương vị của phô mai rất đa dạng, phong phú. Với những tín đồ của mì Ý, pasta hay pizza thì không thể không biết đến phô mai. Không những vậy, phô mai còn là món khoái khẩu của rất nhiều trẻ nhỏ. Tuy nhiên, việc cho trẻ ăn phô mai với liều lượng bao nhiêu, trường hợp nào không nên cho trẻ ăn thì rất ít người quan tâm.

Hàm lượng dinh dưỡng trong phô mai

Phô mai là một trong các thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với trẻ nhỏ, có mùi vị hấp dẫn và dễ kết hợp, chế biến thành nhiều món ăn trẻ thích thú. Theo bác sĩ Bích Thủy, phô mai cung cấp một lượng lớn chất dinh dưỡng giúp trẻ phát triển toàn diện: canxi, protein, chất béo, đạm và các loại vitamin.

– Canxi

Canxi là một trong các thành tố giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển xương của trẻ. Những thực phẩm có nguồn gốc từ sữa như phô mai là nguồn bổ sung canxi tuyệt vời cho cơ thể của trẻ. Cứ 100gam phô mai cung cấp 600mg canxi.

“Với cùng một liều lượng, phô mai có chứa lượng canxi cao gấp 6 lần trong sữa, gấp 100 lần lượng canxi có trong các loại thịt. Ngoài ra, trong phô mai còn chứa vitamin D nhưng với một lượng thấp (100gr phô mai chứa 0,75μcg vitamin D) giúp cơ thể trẻ hấp thu canxi vào xương”, bác sĩ Thủy cho biết.

– Protein

Protein là một thành phần thiết yếu cho sự phát triển của trẻ. Nó cung cấp năng lượng và giúp cơ thể bé hình thành cơ, xương cũng như các tế bào cơ thể. Trong phô mai chứa hàm lượng protein rất cao (100gam phomai cung cấp ≈11gam đạm), được xếp vào nhóm thực phẩm giàu protein.

– Chất béo

Chất béo giúp tổng hợp chất xám của hệ thần kinh, thiết lập màng tế bào, hấp thu và vận chuyển các chất dễ tan trong dầu như vitamin A, E, D, K. Trong 100gam phô mai có thể cung cấp cho cơ thể tới 23,5g chất béo.

– Các loại vitamin

“Nguồn vitamin B1 và B12 có trong phô mai ngoài việc giúp cơ thể khỏe mạnh, còn kích thích sự phát triển của tế bào da. Thêm vào đó, vitamin cũng hạn chế những căn bệnh phổ biến trên da của trẻ như ngứa và dị ứng. Đặc biệt, phô mai chứa nhiều vitamin A, có tác dụng trong việc duy trì thị lực, giúp tăng cường sức khỏe của niêm mạc và giác mạc. Do vậy, rất tốt trong việc đảm bảo vấn đề thị lực của trẻ”, bác sĩ Thủy chỉ rõ tác dụng của các loại vitamin có trong phô mai.

Bác sĩ Thủy cho biết thêm, phô mai kích thích việc sản xuất nước bọt trong miệng, giúp loại bỏ thức ăn dính lại trên răng. Ngoài ra, chất casein trong phô mai giúp bảo vệ men răng, ngăn chặn sâu răng ở trẻ nhỏ.

Sử dụng phô mai đúng cách cho trẻ nhỏ

Khi cho trẻ ăn phô mai, cần cho bé ăn đúng cách để hấp thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng. Theo bác sĩ Bích Thủy, nên sử dụng phô mai như một loại thực phẩm bổ sung, không thay thế các thực phẩm chính như sữa mẹ và sữa. Tuyệt đối không cho trẻ ăn quá nhiều.

Đồng thời, không cho trẻ ăn phô mai trước khi đi ngủ hoặc trước bữa ăn vì cho ăn trước khi đi ngủ, trẻ rất khó tiêu hóa, dẫn đến việc khó tiêu, chướng bụng và khó ngủ. Còn ăn trước bữa ăn, trẻ sẽ no bụng và bỏ bữa chính.

Bác sĩ Bích Thủy nhấn mạnh: “Các mẹ có thể cho trẻ ăn phô mai khi trẻ bắt đầu bước vào tuổi ăn dặm (6 tháng tuổi). Tuy nhiên, chỉ nên cho trẻ ăn từ từ từng ít một và thăm dò phản ứng của con. Nếu thấy trẻ xuất hiện dấu hiệu lạ, mẹ cần tạm ngưng và hỏi ý kiến bác sĩ”.

Trong phô mai chứa cholesterol, nhiều chất béo bão hòa và muối không tốt cho sức khỏe của trẻ. Vì vậy, các mẹ cần chú ý tới liều lượng khi cho trẻ ăn.


Trong phô mai chứa cholesterol, nhiều chất béo bão hòa và muối không tốt cho sức khỏe của trẻ. (Ảnh minh họa)

– Phô mai tươi màu trắng dạng kem

5-6 tháng: 13 g/lần

7-8 tháng: 20-24 g/lần

9-11 tháng: 24 g/lần

12-18 tháng: 24-29 g/lần

– Phô mai miếng, viên

7-8 tháng: 12-14 g/lần

9-11 tháng: 14 g/lần

12-18 tháng: 14-17 g/lần

Trường hợp không nên cho trẻ ăn

Bác sĩ Bích Thủy khuyến cáo, không phải trẻ nào tới thời kì ăn dặm cũng có thể cho ăn phô mai. Khi trẻ có vấn đề thuộc những trường hợp sau, các mẹ không nên cho trẻ ăn:

– Các trẻ có vấn đề tiêu hóa như đầy bụng, tiêu chảy: Phô mai có thể làm cho các bệnh này có khả năng trầm trọng hơn, có thể phản ứng mạnh dễ dẫn tới dị ứng.

– Trẻ bị suy thận, đau tim và những bệnh liên quan tới xương.

– Trẻ bị tiểu đường, thừa cân, béo phì, tăng canxi huyết.

– Trẻ có cơ địa dị ứng khi sử dụng phô mai.

Cách chọn phô mai chuẩn

Để chọn được một loại phô mai chuẩn dành cho trẻ, các mẹ nên dựa vào tiêu chí sau:

– Chọn chủng loại phù hợp ( tuổi, mùi vị), dành cho trẻ em, nhất là loại phô mai dành cho bé dưới 1 tuổi phải có hàm lượng chất béo không vượt quá 20%

– Chọn các loại phô mai nhạt (có hàm lượng muối thấp) như phô mai của Pháp…khi mở ra màu sắc bình thường, có mùi thơm.

– “Trong khi loại phô mai tươi rất đa dạng về chủng loại, tuy nhiên nó ít phổ biến hơn. Dù lựa chọn sử dụng phô mai thường hay phô mai tươi, khi mua cũng cần xem kỹ bao bì sản phẩm, nhà sản xuất thường ghi rõ thời gian sử dụng và cách bảo quản của từng loại, nên phô mai phải được bảo quản đúng hướng dẫn của nhà sản xuất ( tránh bị mốc)”, bác sĩ khuyến cáo.

– Chọn các nhà sản xuất có uy tín trên thị trường, không nên ham các loại phô mai quá rẻ có thể là không rõ nhà sản xuất, hàng sắp hết hạn sử dụng hoặc bắn lại hạn sử dụng khi đã hết thời hạn.

Theo Khám phá

Bệnh Trẻ Em: Cảnh Báo 3 Nguy Hiểm Khi Sử Dụng Túi Sưởi Cho Bé Trong Mùa Đông – Nguyễn Chi

Túi sưởi là một trong những vật dụng không thể thiếu trong những ngày giá rét. Đặc biệt nhà có trẻ nhỏ, túi sưởi càng trở nên hữu dụng hơn bao giờ hết.

Nhưng nếu cha mẹ không chú ý và sử dụng đúng cách, túi sưởi sẽ là thủ phạm gây nguy hiểm cho trẻ.

1. Những nguy hiểm tiềm ẩn khi sử dụng túi sưởi cho trẻ

Gây bỏng nặng


Túi sưởi có thể gây bỏng nặng cho trẻ

Theo các chuyên gia, túi sưởi có nguy cơ gây nổ cao so với các vật dụng khác. Đặc biệt các loại túi sưởi không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng đang được bán tràn lan tại nhiều cửa hàng.

Mới đây, bệnh viện sản nhi Nghệ An đã tiếp nhận trường hợp bé gái 17 tháng tuổi bị bỏng nặng do trong quá trình sử dụng túi sưởi, túi bị bục khiến bé bị bỏng nặng phần mông, bẹn, bộ phận sinh dục. Trước đó vào năm 2011, cũng có trường hợp bé gái ở Tuyên Quang bị bỏng 15%, nguyên nhân do túi sưởi bị vỡ, nước sôi trong túi bắn vào người và gây bỏng cho bé.

Gây điện giật

Túi sưởi dùng lâu hoặc mua phải hàng kém chất lượng, nguy cơ túi bị hở và gây giật điện là rất cao. Đặc biệt trẻ nhỏ hiếu động thường đến gần túi sưởi ngồi hoặc nằm lên, dùng gậy chọc vào túi… rất dễ khiến túi bị vỡ hoặc bị giật điện.

Vì vậy, trong trường hợp đang nạp điện túi sưởi cần để xa tầm tay trẻ nhỏ. Bởi trong quá trình nạp, túi sưởi chứa dòng điện mạnh, nếu chẳng may túi bị rò rỉ nước hay ổ cắm điện, sạc điện bị hở đều gây nguy hiểm cho trẻ.

Gây mù mắt

Ngoài bỏng nặng, giật điện, túi sưởi còn có nguy cơ gây mù mắt nếu cha mẹ không chú ý tới việc dùng túi sưởi. Do cơ chế hoạt động của túi sưởi là có một cực điện làm nóng trong môi trường nước muối loãng; túi có rơ le khống chế tự ngắt khi đủ nhiệt.

Theo chuyên gia, cơ chế hoạt động là thế, nhưng với các loại túi sưởi không rõ nguồn gốc, trôi nổi ngoài thị trường, sau khi làm nóng nhiệt độ ở mức quá lâu, túi sưởi sẽ tự sinh ra nhiệt làm giãn nở phần vỏ, về lâu dài khiến phần vỏ túi bị nóng có thể dẫn tới thủng, giãn và gây nổ. Nếu phần nhiệt quá mạnh, túi sưởi sẽ nổ mạnh, ngoài việc bị bỏng phần thân, nước nóng có thể bắn vào mắt và làm hỏng mắt trẻ.

2. Những lưu ý khi sử dụng túi sưởi


Cha mẹ cần cẩn thận khi sử dụng túi sưởi cho trẻ

Vào mùa đông lạnh giá, để giữ ấm cho cơ thể trẻ, ngoài việc mặc quần áo ấm, nhiều cha mẹ vẫn thường xuyên sử dụng túi sưởi để ủ ấm cho con. Tuy nhiên, khi sử dụng túi sưởi, cha mẹ cần phải hết sức lưu ý để phòng chống những tai nạn ngoài ý muốn ở trẻ:

  • Không cho trẻ tới gần túi sưởi khi đang sạc điện.
  • Không dùng khăn ướt lau túi sưởi khi sạc vì có thể gây chập điện, cháy nổ hoặc giật điện.
  • Thường xuyên kiểm tra túi sưởi xem còn độ an toàn khi sử dụng không, nếu nhận thấy bất kỳ dấu hiệu bất thường cần ngưng sử dụng và mang đi sửa chữa.
  • Nên chủ động rút ổ điện khi thấy túi sưởi đạt độ nóng cần thiết, không nên để túi tự động ngắt vì có thể dẫn tới việc túi sưởi nóng quá dễ gây phỏng da cho trẻ.
  • Không sử dụng các vật nhọn chọc vào túi. Đặc biệt là trẻ nhỏ hiếu động, thường dùng gậy chọc túi có thể gây cháy nổ rất nguy hiểm.
  • Khi túi bị hỏng, nên mang tiêu hủy, tuyệt đối không đổ dung dịch trong túi ra vì có thể gây nên các sự cố chập điện, cháy nổ ngoài ý muốn.
  • Cuối cùng bạn không rửa túi trong nước, chỉ dùng khăn ướt lau khô túi khi không sạc điện.

Yeutre.vn (Tổng hợp)

Bệnh Trẻ Em: Trẻ Ăn Nhiều Nhưng Vẫn Suy Dinh Dưỡng, Ba Mẹ Nên Làm Gì Để Con Tăng Cân – Nguyễn Chi

Trẻ ăn nhiều nhưng không lên cân là lo lắng của rất nhiều bậc cha mẹ. Nguyên nhân do con không hấp thu được dinh dưỡng khiến con vẫn còi cọc dù mẹ cố “nhét” rất nhiều thực phẩm vào cơ thể con.

Vậy làm thế nào khi con không hấp thu dinh dưỡng?


Ăn uống khoa học giúp trẻ hấp thu dinh dưỡng tốt hơn

1. Nguyên nhân trẻ không hấp thu dinh dưỡng

Không hấp thu dinh dưỡng là tình trạng diễn ra khá phổ biến ở trẻ em từ 0 – 3 tuổi, đặc biệt khi trẻ bước vào độ tuổi ăn dặm từ 6 – 12 tháng tuổi. Một trong những nguyên nhân phổ biến là:

– Trẻ bị tổn thương ruột non dẫn tới việc tiêu hóa và vận chuyển chất dinh dưỡng kém đi, vì vậy cơ thể không thể hấp thu dinh dưỡng từ thực phẩm được.

– Hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện như men tiêu hóa chưa có đủ ở dạ dày, gan, mật và không thể tiêu hóa hết thức ăn.

– Cha mẹ cho trẻ ăn quá nhiều dẫn tới việc trẻ bị đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, táo bón và kém hấp thu dinh dưỡng.

2. Dấu hiệu trẻ kém hấp thu dinh dưỡng

– Trẻ ăn nhiều nhưng không thấy lên cân hoặc không tăng chiều cao.

– Trẻ thường xuyên đi phân sống, đi phân nhiều lần trong ngày, tiêu chảy.

– Trẻ ngày càng biếng ăn hay quấy khóc, ngủ ít.

3. Làm thế nào để trẻ hấp thu dinh dưỡng?


Cha mẹ nên cho trẻ ăn theo nhu cầu

Nếu cha mẹ nhận thấy trẻ có dấu hiệu kém hấp thu dinh dưỡng cần thay đổi ngay chế độ ăn uống hiện tại ở trẻ như:

– Cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm. Vì nếu trẻ chỉ ăn một số loại thực phẩm phổ biến, cơ thể trẻ sẽ không được cung cấp đầy đủ dưỡng chất. Nguyên nhân, những thức ăn hàng ngày mẹ cho trẻ ăn có thể không cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết cho cơ thể trẻ, do đó, thực phẩm càng đa dạng trẻ càng có cơ hội được hấp thu nhiều dưỡng chất hơn.

– Không ăn theo số lượng, cần xây dựng chế độ ăn uống chất lượng cho trẻ. Thay vì mẹ ép trẻ ăn thật nhiều trong một ngày, mẹ hãy cho trẻ ăn ít những đủ chất dinh dưỡng. Đối với trẻ ăn dặm từ 6 – 10 tháng, mẹ chỉ cần cho trẻ ăn 2 bữa cháo/ngày và uống 400 – 500ml sữa, ăn kèm thêm sữa chua, váng sữa hoặc hoa quả. Trẻ trên 1 tuổi, cần được ăn 3 bữa cháo/cơm/bún/ngày và có thêm 1- 2 bữa phụ trong ngày.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, ăn đủ sẽ tốt hơn là ăn nhiều. Ăn đủ giúp nhu động ruột của trẻ hoạt động tốt, không quá tải, không gây ra trường hợp đầy hơi, đau bụng, khó tiêu. Hệ tiêu hóa hoạt động tốt thì trẻ sẽ hấp thụ được dinh dưỡng tốt từ thực phẩm, nhờ vậy, trẻ sẽ sớm lên cân hơn nếu mẹ thường xuyên ép con ăn.

– Bổ sung chất đạm, chất xơ, chất béo hay tinh bột hài hòa. Ví dụ, trẻ 6 tháng tuổi, trong mỗi bữa ăn chỉ cần 1 muỗng canh thịt, 1 muỗng canh rau, 1 muỗng canh dầu ăn là đủ. Cho nhiều quá cũng không tốt tới hệ tiêu hóa non nớt ở trẻ.

Yeutre.vn (Tổng hợp)

Bệnh Trẻ Em: Mẹ Nên Làm Gì Để Trẻ Không Đi Ngoài Phân Sống? – Nguyễn Chi

Đi ngoài phân sống là tình trạng thức ăn chưa tiêu hóa được, trẻ ăn gì ra đó. Nếu để tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ như trẻ không tăng cân, sút cân, biếng ăn, còi xương, suy dinh dưỡng.

1. Nguyên nhân trẻ đi ngoài phân sống


Đi ngoài phân sống kéo dài khiến trẻ còi xương, suy dinh dưỡng

– Cho trẻ ăn quá sớm: Theo các chuyên gia, độ tuổi ăn dặm thích hợp nhất cho trẻ là từ 6 tháng tuổi trở lên. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ lo lắng con chậm lớn hơn so với trẻ cùng trang lứa nên thường cho trẻ ăn dặm từ 4 tháng tuổi. Ở giai đoạn này, bộ phận tiêu hóa của trẻ còn non nớt nên rất dễ bị tổn thương, chưa thể tiêu hóa được các thực phẩm cứng hay lỏng ngoài sữa mẹ (sữa công thức). Đó là lí do trẻ thường đi ngoài 3 – 4 lần và đi ngoài phân sống, lợn cợn, mùi chua, tanh.

– Trẻ ăn quá nhiều: “nhồi nhét” trẻ ăn là thói quen của nhiều bà mẹ Việt với hy vọng con sẽ tăng cân nhanh chóng. Đây là sai lầm phổ biến và khiến trẻ ăn mãi không lớn, thậm chí còn rối loạn tiêu hóa, tổn thương ruột, loạn khuẩn đường ruột, dẫn tới việc không tiêu thực phẩm và đi ngoài phân sống.

– Cho trẻ ăn nhiều đạm, đường, chất béo: đây đều là các chất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, tuy nhiên, chế độ nhiều đạm, đường, chất béo sẽ khiến trẻ không thể tiêu hóa được thực phẩm.

– Chức năng gan kém hoặc tắc ống mật dẫn tới việc trẻ ăn nhiều mà không hấp thu được và đi phân sống.

– Sử dụng nhiều kháng sinh khiến hệ tiêu hóa của trẻ bị tổn thương, không hấp thu được thức ăn. Trẻ ăn nhiều nhưng vẫn còi và thường xuyên có dấu hiệu đi phân sống.

2. Khi nào đưa trẻ đi gặp bác sĩ?

Nếu để tình trạng đi phân sống kéo dài sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng sống của trẻ. Do đó, nếu mẹ thấy trẻ đi phân sống quá 3 ngày trở lên, đi nhiều lần trong ngày, có dấu hiệu mệt mỏi, lừ đừ, sút cân thì cần đưa trẻ đi gặp bác sĩ để được xét nghiệm và kiểm tra nguyên nhân vì sao trẻ đi ngoài phân sống.

Các mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc cho trẻ uống và tự ý cho trẻ sử dụng các loại men vi sinh, men tiêu hóa. Vì nếu sử dụng không đúng cách có thể khiến trẻ bị phụ thuốc thuốc, cơ thể không tự sinh ra men tiêu hóa được, dẫn tới suy giảm hệ miễn dịch và ngày càng yếu đi.

3. Cách khắc phục tình trạng đi ngoài phân sống ở trẻ


Điều trị tình trạng đi ngoài phân sống ở trẻ càng sớm càng tốt

Ngoài sử dụng thuốc theo đơn bác sĩ để khắc phục tình trạng đi ngoài phân sống ở trẻ, các mẹ cần xây dựng cho con chế độ ăn uống khoa học để hệ tiêu hóa của con phát triển ổn định và khỏe mạnh.

Vì vậy, mẹ lưu ý:

– Cho trẻ ăn các thực phẩm giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa như cháo ninh nhừ, cháo xay với thịt, các loại củ. Thời gian ăn khoảng 1-2 tuần để khắc phục tối đa tình trạng khó tiêu hóa.

– Giảm bớt thực phẩm nhiều dầu mỡ và tạm thời ngừng các loại thực phẩm tanh như hải sản cho tới khi trẻ khắc phục hoàn toàn tình trạng đi ngoài phân sống.

– Không cho trẻ ăn các loại thực phẩm cứng vì sẽ khó tiêu. Các loại nước ngọt, bánh kẹo cũng cần loại bỏ khỏi thực đơn hàng ngày của trẻ.

– Cho trẻ ăn 100ml sữa chua mỗi ngày, khoảng 1 tiếng sau ăn là thời gian thích hợp nhất để ăn sữa chua. Sữa chua sẽ giúp trẻ dễ tiêu hóa, tăng lợi khuẩn ở đường ruột, phòng ngừa các bệnh về tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, nhiễm khuẩn đường ruột, loạn khuẩn đường ruột…

– Có thể cho trẻ uống men tiêu hóa, men vi sinh để giúp trẻ tiêu hóa tốt hơn. Tuy nhiên, không được lạm dụng các loại thực phẩm chức năng này, chỉ uống theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Khi nấu bột cho trẻ cần lưu ý về thời gian nấu. Sau khi lửa sôi lớn, cần để lửu liu riu thêm khoảng 15 – 20 phút, tới khi nồi bột hơi bén thì mới tắt bếp. Rất nhiều mẹ có thói quen nấu bột nhanh, để lửa liu riu khoảng 5 phút là cho bé ăn, đây cũng là nguyên nhân khiến trẻ đi ngoài phân sống vì thực phẩm chưa chín kỹ.

4. Bao lâu thì trẻ hết bệnh?

Theo các bác sĩ, cha mẹ cần phải kiên trì khi điều trị tình trạng đi ngoài phân sống ở trẻ. Thời gian điều trị có thể từ 10 – 20 ngày. Vì nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do chế độ ăn uống gây ra. Do đó, nếu mẹ không thay đổi thói quen ăn uống cho con thì có thể khiến bệnh lâu khỏi dù đã dùng thuốc.

Yeutre.vn (Tổng hợp)

Bệnh Trẻ Em: Hậu Quả Khôn Lường Khi Tùy Tiện Dùng Thuốc Cho Trẻ Biếng Ăn – Hồng Tâm

Trẻ biếng ăn là nỗi ám ảnh của nhiều gia đình. Chính vì vậy, khi nghe quảng cáo về các loại thuốc cho trẻ biếng ăn, nhiều bố mẹ không ngần ngại mua ngay mà không biết thành phần trong đó là gì và có ích gì trong việc điều trị chứng biếng ăn ở trẻ.

Thuốc được dùng cho người bệnh. Trong khi đó, biếng ăn thực chất không phải là bệnh lý.

Biếng ăn không phải là bệnh


Biếng ăn à một dạng rối loạn ăn uống không phải là bệnh

Theo thống kê của Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM) hàng tháng có hơn 3.000 trẻ đến khám và tư vấn dinh dưỡng, trong đó có đến 70% đến viện do biếng ăn.

Biếng ăn là một dạng rối loạn ăn uống xuất phát từ các nguyên nhân bệnh lý (sốt, tiêu hóa kém, đau họng, đau do cắt bao quy đầu…) và tâm lý (bị ép ăn, sợ món ăn…). Biếng ăn thường phổ biến ở trẻ từ 1-6 tuổi với các biểu hiện ăn ít, kén ăn, ăn kéo dài nhiều tiếng, sợ hoặc ói khi nhìn thấy thức ăn… Như vậy, biếng ăn không phải là một căn bệnh. Do đó, để điều trị biếng ăn, không nhất thiết phải dùng thuốc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp có sự chỉ định của bác sĩ, các bé có thể dùng thêm thuốc bổ để phục hồi cơ thể đang trong tình trạng suy yếu. Tuy nhiên, ngay cả khi thuốc được bác sĩ kê đơn vẫn nên xem lại vì một số bà mẹ tự ý mua thuốc bên ngoài theo toa và cho bé dùng trong thời gian dài. Việc làm vô ý này tiềm ẩn rất nhiều mối nguy cho chính sức khỏe của bé về lâu dài. Chưa kể, các bác sĩ mẹ tìm đến có thể không đủ chuyên môn hoặc lợi dụng y chức của mình để kê toa.

Thuốc cho trẻ biếng ăn thực chất là thuốc gì?


Các loại thuốc cho trẻ biếng ăn phần lớn là thuốc kích thích sự thèm ăn ở trẻ và làm trẻ tăng cân trong thời gian ngắn

Các loại thuốc cho trẻ biếng ăn được quảng cáo phần lớn là thuốc kích thích sự thèm ăn ở trẻ và làm trẻ tăng cân trong thời gian ngắn. Chính vì vậy, không thể tránh khỏi những e ngại về việc có thành phần tăng trọng trong thuốc.

Trẻ có thể thèm ăn trong thời gian dùng thuốc nhưng khi ngưng thuốc tình trạng biếng ăn trở lại và nghiêm trọng hơn trước. Điều này rất đáng để các bố mẹ phải suy nghĩ lại khi muốn dùng thuốc cho trẻ biếng ăn.

Bên cạnh đó, hiện nay, thuốc giả thuốc thật vẫn còn lẫn lộn, trong khi đó, người dùng lại không đủ chuyên môn nên rất khó để phân biệt. Việc mua nhầm thuốc bổ thành thuốc độc vì thế rất khó tránh khỏi.

Điều bố mẹ cần làm cho trẻ biếng ăn?

– Dù rất lo lắng nhưng thay vì tự ý mua thuốc cho trẻ biếng ăn, trước tiên, bố mẹ hãy đưa bé đến viện dinh dưỡng hoặc các bệnh viện Nhi để được kiểm tra và xác định tình trạng bệnh. Bằng chuyên môn của mình, các bác sĩ sẽ cho mẹ những tư vấn hữu ích hoặc có thể kê thuốc nếu thấy cần thiết.

– Khi sử dụng toa thuốc của bác sĩ để điều trị biếng ăn cho trẻ, bố mẹ không nên lạm dụng, tự ý đem toa đi mua thuốc ở ngoài. Tốt nhất, nên cho trẻ tái khám và theo liệu trình điều trị chuyên khoa.

– Trong thời gian điều trị, có thể thử một số biện pháp dựa trên các phát hiện về nguyên nhân khiến trẻ biếng ăn. Chẳng hạn, nếu trẻ có dấu hiệu biếng ăn do bị ép ăn, mẹ hãy thay đổi chiến thuật của mình. Thay vì đe nạt, mẹ có thể biến bữa ăn của bé thành một trò chơi để mang đến sự thoải mái cho bé. Hoặc nếu bé biếng ăn do đau, sốt,… mẹ nên cho bé đi khám và trị bệnh.

– Một số trẻ do thiếu hụt kẽm sinh ra mất cảm giác ngon miệng. Mẹ có thể liên hệ với bác sĩ để biết lượng kẽm bổ sung phù hợp.

Sau cùng, mẹ nên biết cách phân biệt khi nào bé đói và khi nào bé no để có thể đáp ứng đúng nhu cầu của bé.

Tóm lại, thuốc cho trẻ biếng ăn không nên dùng tùy tiện. Nếu có sự chỉ định của bác sĩ nên dùng theo đúng hướng dẫn.

Yeutre.vn